NHƠN CHỦNG HỌC.
Mãn Thanh, Bắc Kỳ và Đàng Trong.
Tôi viết bài này nhầm làm rõ vấn đề “Dân Đàng Trong không bắt nguồn từ Dân Bắc Kỳ”.
Hiện tại, đa số người dân, cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong đều bị giáo dục là Dân Đàng Trong bắt nguồn từ Dân Bắc Kỳ. Đây là hậu quả của lối viết sử lộn xào của đám Sỹ phu.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng bỏ đất Thanh Hóa để tiếp nhận Châu Ô và Cháu Lý (Rý).
Lúc đó, đoàn tùy tùng chưa đến 4 ngàn người, trong khi, dân thổ địa của hai Châu đó vẫn rất nhiều và sinh sống dọc 5 tỉnh mà Chúa Nguyễn gọi là Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị Quảng Đức – Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Tín).
Xạo sử đã không nhắc đến Dân Thổ Địa 5 tỉnh này nên mọi người bị đánh lừa là Nguyễn Hoàng dẫn dân Bắc Kỳ đi tiếp nhận “Vùng Đất trống”.
Dân Đàng Trong bao gồm Dân Thổ địa từ Quảng Bình cho đến Cà Mau, Phú Quốc và từ năm 1600, khi Nguyễn Hoàng cắt đứt liên lạc và bắt đầu đối kháng Đàng Ngoài thì dân Bắc Kỳ vô Đàng Trong chỉ còn là “vượt biên”.
SẮC DÂN:
Sắc dân dựa trên cấu tạo của cơ thể từ màu da, màu tóc, hình thể xương, ……
Dân Châu Âu nhiều hơn các Dân khác là có nhiều hơn 1 cái xương.
Dân Da trắng, Da Vàng, Da Ngâm đen và Da đen.
1. Dân Mãn Thanh thì mắt him.
2. Dân Bắc Kỳ thì cầm bạnh, răng hàm trên hô.
3. Dân Đàng Trong thì cầm nhỏ, chia ra nhiều vùng.
– Quảng Bình Quảng Trị người săn chắc.
– Quảng Đức – Huế người ốm nhưng xương cứng.
– Quảng Nam cầm rất nhỏ.
– Quảng Ngãi, Bình Định cho đến Bình Thuận thì da ngâm đen.
– Miền Nam xương yếu, thịt không chắc, da trắng hơn.
GIỌNG NÓI:
Đây là điều rõ nhất để phân biệt giống dân theo vùng miền.
Tiếng Huế là một “ngoại ngữ” với dân Việt Nam hiện tại.
Người Huế nghe được toàn bộ phát âm các vùng miền khác trong khi rất nhiều vùng miền khác không nghe được Tiếng Huế.
Cho nên:
DÂN ĐÀNG TRONG LÀ DÂN HỢP CHỦNG CỦA NHIỀU CHỦNG TỘC KHÁC NHAU CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ DÂN BẮT NGUỒN TỪ DÂN BẮC KỲ.
Nếu bạn ở một vùng miền nào đó mà bạn không mang nét đặc trưng tôi nêu ở trên thì bạn là Dân Lai.


