Categories
Tiếng Nam kỳ

Ghi chú lai rai cho nhẹ đầu… : “BÁNH DA LỢP”

Quí bạn đều nghe nói riết quen luôn, “bánh da lợn”. Ủa, trong Nam gọi “heo” chớ đâu bao giờ gọi “lợn” (cách gọi ngoài bắc, chỉ cùng một con vật)? Vậy, loại bánh này phải chăng có gốc từ ngoài bắc nên gọi “bánh da lợn”? Hoàn toàn KHÔNG phải.

Ngoài bắc, không có món này, mà chỉ ở miền Nam mới có món này đó đa!

Do đó, cách gọi “lợn” – trong “bánh da lợn” – không hề mang nghĩa tương đương với “heo”. Vậy, “lợn” từ đâu ra?

Cách gọi gốc là BÁNH DA LỢP, ghi bằng chữ Nôm (đây là tiếng thuần Việt): bánh (𥹘) da (𤿦) lợp (苙). “Bánh da lợp” là loài bánh được cấu tạo có mấy lớp được lợp lại.

Nhưng vẫn lấn cấn, sao “lợp” lại biến âm thành “lợn”?

Có một lý do, đáng chú ý: Ký tự 苙 (lợp, lớp) được mượn theo cách thức “di âm dị nghĩa”. Tức mượn nguyên dạng chữ Hán 苙, “dị âm”: âm Hán-Việt là “lập”, còn Nam âm là “lợp, lớp”.

Còn “dị nghĩa”? Thật bất ngờ, “lập” 苙 này nghĩa là “chuồng heo”, “chuồng lợn”!

Thành thử “BÁNH DA LỢP”, bà con nghe mấy thầy “có chữ” giảng giải “lợp” là “lập”, là chuồng heo, lợn, nghe ngồ ngộ lắm đa!

Nếu nói …”bánh da heo”, tưởng bánh làm bằng da con heo sẽ thành tưởng bở, không phải vậy! Còn nói “bánh da lợn” (chú ý: hồi trước, người trong Nam chưa quen nghe “lợn” theo nghĩa là “con heo”), nghe vui tai.

Rao bán “bánh da lợp”, mà rao mềm giọng cũng dễ thành “bánh da lợn”, hơn nữa đây còn là “nói chữ” như mấy thầy giảng giải. Càng hay, nghe dzui dzui, ngon lành!

** Bây giờ, nói riết quen rồi, “bánh da lợn”. Xin nhớ: “lợn” này không dính một miếng gì với “heo” hết, mà gốc là từ “Bánh da LỢP”.

MATTHEW NCHUONG

bánh da lợp
Categories
Tiếng Nam kỳ

Tiếng Đại Nam vs Tiếng Việt

Tiếng Việt có phải là tiếng của xứ Nam Kỳ?

Câu trả lời: Không. Tiếng Việt không phải là tiếng của xứ Nam Kỳ. Xứ Nam Kỳ chỉ có tiếng Đại Nam mà thôi. Quí bạn hãy đọc cho hết bài thì sẽ được tỏ tường.

Nhiều người sẽ hỏi tiếng Đại Nam là gì và có từ khi nào. Câu trả lời là tiếng Đại Nam có từ thời “Pháp Thuộc” nhưng chỉ có ở đất Nam Kỳ. Đất Nam Kỳ thời “Pháp Thuộc” là một lãnh thổ Hải Ngoại thuộc Pháp. Từ những năm 1860 cho đến 1930, những nhơn tài Nam Kỳ xuất chúng đã đóng góp cho xứ Nam Kỳ rất nhiều thậm chí trước người Bắc gần 100 năm.

Một trong những nhơn tài Nam Kỳ góp phần tạo ra tiếng riêng cho xứ Nam Kỳ chính là ông Paulus Huình Tịnh Của. Ông là người Nam Kỳ, công dân Pháp, đã viết và xuất bổn cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. Sách Đại Nam Quấc Âm Tự Vị chính là cuốn từ điển đầu tiên của Xứ Nam Kỳ. Chứng tỏ xứ Nam Kỳ không có tiếng Việt mà chỉ có tiếng Đại Nam mà thôi. Quí bạn có thể nói tiếng Nam Kỳ hoặc tiếng Đại Nam cũng được vì cả hai đều là tiếng cùa xứ Nam Kỳ.

Vậy tiếng Việt có từ năm nào và đến từ đâu? Câu trả lời rất đơn giản là nó đến từ Bắc Kỳ. Trước tiên, chúng ta nhìn vào cuốn từ điển đầu tiên của xứ Bắc Kỳ là cuốn Việt Nam Từ Điển 1931 được viết và xuất bổn bởi Hội Khai Trí Tiến Đức ở Hà Nội. Quí bạn có thể thấy năm 1931 tiếng Việt có ở Bắc Kỳ. Có thể trước đó họ chỉ có khái niệm về “tiếng Ta” chớ chưa có tiếng Việt. Bằng chứng là chủ nhơn câu nói “Tiếng ta còn, nước ta còn” của ông Phạm Quỳnh(sau này người “Việt Hải Ngoại” đổi chữ Ta thành Việt).

Tiếng Đại Nam vs Tiếng Việt

Sau năm 1954, người Bắc di cư trong Nam và bốn năm sau họ đã nắm nguyên cả bộ giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó, “tiếng Việt” mới được khai sanh và tiếng Đại Nam đã bị lãng quên cho tới ngày hôm nay. Trước khi có “tiếng Việt” thì chỉ có “Việt Ngữ” thôi. Ở Hải Ngoại cũng có lớp Việt Ngữ được dạy trong trường và trung tâm mỗi tuần. Chứng tỏ tiếng Việt đến từ Bắc Kỳ chớ không phải là từ Nam Kỳ. Cái khái niệm “tiếng Việt” chỉ xuất hiện ở những năm 80, tức sau năm 1975. Ở bên Hải Ngoại cũng xài khái niệm y chang vậy. Ủa, như vậy là Bắc Kỳ VNCH và Bắc Kỳ Cộng đều là một sao? Như vậy Bắc Kỳ đã và đang đồng hóa người Nam Kỳ từ đó tới giờ. Rồi có nhóm “Bảo Tồn Tiếng Việt” mà tôi thấy trong đó toàn là tiếng Bắc Kỳ. Còn tiếng Nam Kỳ mà họ còn nhận vơ là của “tiếng Việt” mới ghê, còn tiếng Bắc Kỳ thì họ cho là tiếng “Việt Cộng.” 😑😑 . Cái gì cũng Việt hết là sao?

Bổ túc cho đoạn trên. “Tiếng Việt” trước năm 75 thực ra là sự kết hợp của tiếng Nam Kỳ và Bắc Kỳ. Tuy nhiên, quí bạn để ý tiếng Nam Kỳ chiếm trọn 80% trong khi tiếng Bắc Kỳ chỉ có 20%. Không tin thì quí bạn thử vô trong link google drive Sách Giáo Khoa thử. Nhiều sách được viết bởi Nam Kỳ và cũng có Bắc Kỳ trong đó. Nếu để ý kỹ sẽ thấy có một số ít chữ Bắc Kỳ trong đó. Lý do là vì Bắc Kỳ muốn che giấu sự nghèo nàn của tiếng họ nên mới thêm vô tiếng Nam Kỳ trong đó.

Kết luận, tiếng Đại Nam là của Nam Kỳ còn tiếng Việt là của Bắc Kỳ. Nội nước Nam và nước Bắc là hai nước khác nhau thì ngôn ngữ cũng khác nhau. Không một ai, một cá thể, một nước nào có quyền xóa và đồng hóa ngôn ngữ và chữ viết một người nào khác. Cho nên tôi kêu gọi người Nam Kỳ từ giờ thay vì xài tiếng Việt thì hãy xài tiếng Đại Nam. Hãy cùng chung tay khôi phục và dạy cho con cháu chúng ta đọc, nói, viết tiếng Đại Nam-Nam Kỳ.

#Nam_Bắc_hai_nhà✌#Nam_Bắc_2_nhà

#Tiếng_Nam_Kỳ

Tác giả: Thầy Giáo Phạm Khương

Categories
Tiếng Nam kỳ

BÙNG BINH HAY BỒN BINH ?

Ta nói lâu nay hễ mở google maps tới khúc “bùng binh” là bắc kỳ google hô “vòng xuyến”.

Tử ngữ của bắc kỳ thì khỏi bàn tới nữa, tui tra thử “bùng binh” trong Đại Nam Quấc Âm tự vị thì ý nghĩa lợi không phải là chỗ giao nhau của ngã tư, ngã năm, ngã sáu… mừ là từ chỉ khúc sông rộng lớn mà tròn.

Nghĩa của Bùng Binh – Trích từ Đại Nam Quấc Âm Tự Vị

Vậy té ra mình phải xài BỒN BINH mới chánh xác!!!

Mừ tại sao lợi là bồn binh ?

Đơn giản là cái bồn binh đầu tiên nằm ở giao lộ Bonard – Charner (bây chừ bắc kỳ 54 -75 nó đặt là lê lợi – nguyễn huệ) xưa kia là cái BỒN kèn thỉnh thoảng có lính (BINH) Pháp tới chơi nhạc cho bà con nghe. Thành thử, bà con mới gọi chỗ đó là bồn binh đó đa. Rồi sau nầy, có thêm các vòng xoay chỗ khác, bà con vẫn lấy danh từ BỒN BINH để chỉ những nơi giao lộ có vòng xoay.

Hình chụp Bồn binh Bồn Kèn thời Cochinchine thuộc Pháp với bồn hình bát quái tám cạnh.

Hình chụp Bồn binh Bồn Kèn thời Việt Nam Cộng hòa.

Tới hồi bắc kỳ vô tràn ngập Nam-kỳ thì chữ nghĩa bắt đầu lộn xộn, bồn bị đổi thành bùng, bị vì BỒN KỲ LẮC nó kị chữ BỒN./.

Hình chụp Bồn binh Bồn Kèn sau năm 1975 bị đổi tên thành “Vòng xuyến cây liễu”
Hiện trạng bắc kỳ phá tan hoang mất tiêu cái bồn binh.

#NB2N #MakeCochinchineGreatAgain #CHNK #Cộng_hòa_Nam_Kỳ

#Tiếng_Nam_kỳ

Tác giả: Hiệp Thiện Nam Bắc Hai Nhà – Mái Nhà Tự Do

Categories
Tiếng Nam kỳ

HUỜN THÀNH CÁCH XÀI BỘ BA PHỤ ÂM GHÉP ĐẶC BIỆT “QU | HU | HO” TRONG ĐẠI NAM QUẤC ÂM.

Đây là bài viết từ Mái Nhà Tự Do được viết bởi anh Hiệp Thiện, người Nam Kỳ chánh gốc.

1. Giới thiệu về bộ ba phụ âm ghép đặc biệt QU | HU | HO:

Trước nhứt, cần minh định trong Quấc Âm nước mình có ba phụ âm đặc biệt QU / HU / HO cùng phát âm như ri: ‘quờ’.

Tỉ dụ:

· Chữ “QUẤC” gồm: QU + ẤC đánh vần là ‘quờ âc quâc sắc quấc’.

· Chữ “HUẾ” gồm: HU + Ế đánh vần là ‘quờ ê quê sắc quế’.

· Chữ “HOA” gồm: HO + A đánh vần là ‘quờ a qua’.

Lược trích của Ngài Trương Minh (Vĩnh) Ký
Trong tài liệu "Cours gradué de langue française (en 100 leçons)", được phát hành năm 1893.
Thầy Ký nói "Quấc" chỉ lạ mắt một chút. 
Thầy còn nói "quấc ngữ là quấc âm".

FBer: Not La-Cochinchine
https://www.facebook.com/groups/1875126989516480/?multi_permalinks=2259823251046850

2. Qui tắc ghép vần với QU | HU | HO:

a. Qui tắc 2/3:

– Mỗi nguyên âm hay nguyên âm ghép sẽ chỉ ghép được tối đa 2 trong 3 phụ âm ghép đặc biệt để tạo thành từ có nghĩa.

Tỉ dụ:

· ‘e’ ghép với QU (que: que kem) & HO (hoe: đỏ hoe), không ghép được với HU.

· ‘ê’ ghép với QU (quê) & HU (huê), không ghép được với HO.

· ‘an’ ghép với QU (quan) & HO (hoan), không ghép được với HU.

· ‘à’ ghép với QU (quà) & HO (hoà), không ghép được với HU. Bởi qui tắc nầy nên từ HÙA phải phân tách thành H + ÙA (đọc là /hùa/) chớ không thể phân tách thành HU + À (không đọc là /quà/ đặng).

· “ây” ghép với QU (quây) & HU (huây), không ghép được với HO.

· “ay” ghép với QU (quay) & HO (hoay), không ghép được với HU.

· “ơn” ghép với QU (quờn) & HU (huờn), không ghép được với HO.

· “ành” ghép với QU (chim quành quạch) & HO (hoành), không ghép được với HU.

· ‘inh’ ghép được với QU (quính) & HU (huinh: huinh đệ), không ghép được với HO.

·  “ông” không ghép được với bộ ba phụ âm nầy. Thành thử, chữ HUỐNG, HUÔNG trong “có huông”, “tình huống” phải phân tách là H + UỐNG, H + UÔNG chớ hông phải HU + ỐNG hay HU + ÔNG.

Lưu ý: trong Quấc Âm nước mình, không có sự hiện diện của nguyên âm ghép “YNH” để tạo thành từ đó đa. Tỉ dụ: chữ “TÌNH” gồm T + ÌNH chớ viết thành “TỲNH” là trật, tương tợ như vậy ta có chữ “MÌNH”, NGHINH”, “KINH”, “LÍNH”… Quí bạn thử đổi “INH” thành “YNH” là sai chánh tả liền.

Thành thử, bấy lâu nay tụi mình viết: huỳnh, huynh, quýnh là sai chánh tả do không biết đến bộ ba phụ âm đặc biệt QU | HU | HO. Trúng chánh tả phải viết là: huình, huinh, quính.

b. Trường hợp đặc biệt ‘I’ và ‘Y’:

Ta nói ông bà mình hay lắm đa, trong bộ ba phụ âm đặc biệt QU | HU | HO thì phân biệt rõ rành:

– ‘QU’ ghép với I: qui, quí, quì, quỉ, quị.

– ‘HU’ ghép với Y: huy, huý, huỷ.

– Còn ‘HO’ không ghép được với I lẫn Y.

$1$

Do “Y” đã ghép với HU nên không ghép được với QU, thành thử quí bạn viết: quy, quý, quỳ, quỷ, quỵ là sai chánh tả.

Quí bạn sẽ không thể tìm được từ: quy, quý, quỳ, quỷ, quỵ trong ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ của ngài HUÌNH TỊNH PAULUS CỦA mà chỉ có: qui, quí, quì, quỉ, quị thôi đó đa.

$2$

Tại sao nói ‘HU’ chỉ ghép với Y mà không ghép được với I, ta nói dễ hiểu lắm.

Tỉ dụ:

· Từ “HỤI” mà kêu bằng HU + Ị rồi đọc là ‘quị’ thì đâu có đặng, thành thử ‘HU’ không ghép được với I. Từ “HỤI” gồm H + ỤI đánh vần như ri: ‘hờ ui hui nặng hụi’ mới trúng phóc.

$3$

Tại sao nói phụ âm đặc biệt ‘HO’ không ghép được với Y lẫn I. Nếu ‘HO’ mà ghép được với I thì quí bạn thử phân tách từ “HỎI” xem, bắt buộc phải là H + ỎI chớ không thể nào là HO + Ỉ đặng.

Tắt một lời, càng lần theo dấu chỉ Nam Âm càng thấy ông bà mình xài SANH NGỮ vi diệu lắm, phải không quí bạn ?

H.T

Categories
Tiếng Nam kỳ

Khi nào dùng từ “Đăng Ký” hoặc “Ghi Danh”?

Có rất nhiều người Việt trong nước, nhứt là các thế hệ sanh sau năm 1975, họ đều xử dụng từ “đăng ký” để ghi tên nhập học, để tham gia, hay là được nhận một thứ gì đó. Tuy nhiên, họ đều hầu như xử dụng sai trong nhiều trường hợp. Từ chánh xác nhứt cho những trường hợp như ghi tên nhập học, tham gia, hoặc nhận một thứ gì đó chính là từ “ghi danh”. Thực ra hai từ “đăng ký” và “ghi danh” đều có nghĩa cả, nhưng quý vị cần phải biết xử dụng từ đúng trong từng trường hợp.

Trước tiên, chúng ta hãy cùng nhau phân tích về hai cụm từ “đăng ký” và “ghi danh”.

Đăng ký (động từ) là gì?

Đăng (động từ) có nghĩa là đưa lên. Ví dụ như là đăng báo, đăng bài, đăng tải. Nghĩa là chúng ta đưa một thứ hay một điều gì đó lên trên công chúng.

Ký(danh từ), hay còn gọi là là ký hiệu, nghĩa là cho phép kết luận về sự tồn tại hoặc về tính chân thực của một sự vật khác có liên hệ với nó.

Như vậy “đăng ký” nghĩa là đưa lên cho công chúng hay tổ chức tên của mình để xác nhận một thứ gì đó, sự vật đó thuộc về mình hoặc ai có liên hệ với mình. Đối với thời gian tánh thì từ “đăng ký” này được dùng trong trường hợp xác nhận chủ quyền hoặc một sự vật gắn bó với chúng ta trong thời gian dài hạn.

Xử dụng trong trường hợp để “tham gia” hoặc nhân phần thưởng là sai

Ví dụ:

  1. Đăng ký bản quyền: xác nhận bản quyền, tác quyền thuộc về tên của người sáng tạo hay sáng tác.
  2. Đăng ký kết hôn: xác nhận cả hai vợ chồng thuộc về nhau.
  3. Đăng ký đất đai và nhà cửa: xác nhận đất đai và nhà cửa thuộc về người chủ đã mua.
Xử dụng trong trường hợp xác nhận bản quyền thuộc về người sáng tạo là đúng.

Như đã trình bầy ở trên về thời gian dài hạn. Quý vị có thể hình dung được “đăng ký bản quyền” được xác nhận thuộc về người sáng tạo hay sáng tác này gắn bó với họ suốt cả cuộc đời ngay cả sau khi họ qua đời. Đồng thời “đăng ký kết hôn” xác nhận rằng cả hai vợ chồng thuộc về nhau suốt cả đời sống hôn nhân. Mà chắc quý vị có nghe câu chúc cho cả hai vợ chồng là “Trăm Năm Hạnh Phúc” phải không?

Ghi danh (động từ) là gì?

Ghi (động từ) nghĩa là dùng chữ viết hoặc dấu hiệu để lưu giữ một nội dung nào đó, khi nhìn lại có thể biết hoặc nhớ lại nội dung ấy.

Danh (danh từ) nghĩa là tên, tên người.

Như vậy “ghi danh” nghĩa là ghi tên. Như tôi đã trình bày “ghi danh” là việc chúng ta ghi tên để nhập học, để tham gia, hoặc để nhận một thứ gì đó. Khác với “đăng ký” thì “ghi danh” được xử dụng trong trường hợp thời gian ngắn hạnkhông xác nhận chủ quyền hoặc liên hệ với mình.

Ví dụ:

  1. Ghi danh khóa học: ghi tên để tham gia lớp học trong buổi học hoăc năm học.
  2. Ghi danh nhận quà: ghi tên để nhận quà.
  3. Ghi danh tham dự: ghi tên để tham dự một sự kiện nào đó.
Trường hợp này dùng từ “ghi danh” mới đúng

Như đã trình bầy ở trên về thời hạn ngắn hạn. Quý vị có thể hình dung được “Ghi danh khóa học” của niên khóa có thể là trên 1 năm hoặc dưới 1 năm. Ở các trường học, các em học sinh tới trường từ đầu tới cuối niên khóa trong 9 tháng trời học tập. Sau niên khóa thì các em được nghỉ hè 3 tháng và bắt đầu niên khóa mới và cứ tiếp tục cho tới khi các em tốt nghiệp lớp 12. Một ví dụ khác nữa là khi quý vị ghi danh để nhận một thứ gì đó của một dịch vụ mỗi định kỳ trong một khoảng thời gian nhất định mà có thể gia hạn hoặc hủy bất cứ lúc nào.

Đây là những định nghĩa cho của “ghi danh” và “đăng ký”. Các quý phụ huynh hãy dạy cho con em xử dụng tiếng Việt cho đúng để chúng không đánh mất đi sự thuần túy của tiếng Việt. Cũng như các bạn trẻ cần phải biết rõ để có thể dạy cho các thế hệ sau như con cái hoặc học trò của các bạn.

Nguồn tham khảo:

Định nghĩa của Đăng (động từ): https://www.rung.vn/dict/vn_vn/%C4%90%C4%83ng

Định nghĩa của Ký (danh từ): https://vi.wiktionary.org/wiki/k%C3%BD#Ti%E1%BA%BFng_Vi%E1%BB%87t

Định nghĩa của Ghi (động từ): http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Ghi

Định nghĩa của Danh (danh từ): http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Danh

Categories
Chia Sẻ Kinh Nghiệm Tiếng Nam kỳ

Bảng đối chiếu từ ngữ của Bắc Kỳ và Nam Kỳ

Lưu ý! Đây là bài viết copy từ trang của giáo sư VNCH bên Hải Ngoại


Kính thưa quý vị,

Hương Saigòn (HSG) đồng ý và hoan nghinh sự cổ võ của Ông Trần Văn Giang về nỗ lực bảo tồn tiếng Việt truyền thống trước sự băng hoại mà Việt cộng đang gây ra cho nền văn hoá nước ta bằng chính sách ngu dân cũng như sự dốt nát cố hữu của tập đòan cộng sản Việt Nam.

Trong khuôn khổ của một email, và vì thời giờ hạn hẹp, ở đây HSG xin miễn diện dẫn sự xuống dốc của nền văn hoá và giáo dục hiện tại của Viêt Nam dưới ách toàn trị của cộng sản tham tàn. Tuy nhiên, quý vị có thể tìm thấy những bằng chứng về sự băng hoại nầy trên internet cũng như những email trước đây trên diễn đàn nầy.

Việc bảo tồn tiếng Nam Kỳ truyền thống là một vấn đề hoàn toàn có tính cách văn hoá mà những ai thiết tha với quê hương, dân tộc đều có nhiệm vụ phải thi hành. Chúng ta, những người yêu nước thương nòi, đều có bổn phận duy trì tiếng Việt trong sáng và phong phú của dân Việt, bỡi lẽ cộng sản Việt Nam, vì ngang ngược và dốt nát, đang nhồi vào đầu óc non nớt của trẻ em và quần chúng Việt Nam cách dùng chữ sai lệch tối nghĩa, ghép ráp bừa bãi, kỳ dị và sai văn phạm, làm mất vẻ đẹp và sự trong sáng của ngôn ngữ nước ta.

Một sự kiện rất nguy hiễm cho nền văn học Việt Nam là hiện nay có một số người (ngay cả một số ký giả người Việt) ở hải ngoại không còn phân biệt được giữa từ ngữ truyền thống trong sáng của VN và từ ngữ sai lệch và quái gở của Việt cộng. Sự tắc trách nầy của một số trí thức VN ở hải ngoại là mối lo âu lớn của cộng đồng người Việt Quốc Gia.

Kính thưa quý vị,
HSG xin chứng minh cái sai lệch của từ ngữ Việt cộng với những thí dụ điển hình sau đây:

(1) Sai văn phạm:
Thí dụ:
– Việt cộng nói : “Tôi đã liên hệ cô Lan”. Câu nầy rõ ràng là sai văn phạm vì trong tiếng Việt truyền thống “liên hệ” là tỉnh từ như trong câu : “Hãy thông báo cho những người liên hệ” . Rõ ràng chữ “liên hệ” không thể dùng làm động từ như trong câu “Tôi đã liên hệ với cô Lan”. Nói đúng tiếng Việt, ta phải nói : “Tôi đã liên lạc với cô Lan”.

– Một thí dụ khác về cách nói sai văn phạm của Việt cộng: “Các anh phải lao động tốt”. Câu nầy hoàn toàn sai văn phạm vì “lao động” là tỉnh từ (dân lao động, giới lao động) nên không thể dùng làm động từ. Cái sai văn phạm thứ hai của câu trên là : “tốt” là tỉnh từ (như tánh tốt , phong tục tốt) nên cũng không thể dùng như trạng từ. Do đó, thay vì nói: “Các anh phải lao động tốt” (sai), người Việt có học phải nói: “Các anh phải làm việc giỏi”.

– Nếu có thì giờ, quý vị có thể đọc báo cộng sản hay nghe chương trình Đọc Báo Vẹm trên Youtube để thấy cách viết sai văn phạm của Việt cộng.

(2) Cách dùng chử ngô nghê, quê mùa và dốt nát.

Thí dụ :
– Việt cộng dùng chữ “tờ rơi” thay vì “tờ truyền đơn” hoặc “bóng đá” thay vì “bóng tròn” (bóng đá cũng sai văn phạm vì “đá” là động từ, trong khi đó “tròn” là tỉnh từ. Vì tỉnh từ dùng để bổ nghĩa cho danh từ, từ ngữ “bóng tròn” là đúng, “bóng đá” là sai. (Bóng Đá ?!?! Không lẽ cả hai đội cầu thủ lừng danh ra thi đấu trên sân cỏ mà chỉ dành nhau một cái “Bóng” ?!?! Đúng là câu nói Tối Nghĩa chứ không làm sáng lạng chữ nghĩa Việt Nam chi cả)

– Việt cộng dùng chữ “siêu sao” thay vì “minh tinh” để nói về một tài tử xuất sắc.Từ ngữ “siêu sao” là một lối gán-ghép chữ nghĩa lai căng, pha trộn tiếng nho với tiếng nôm. Trong khi đó từ ngữ chính thống là “minh tinh” diễn tả một cách chính xác một tài tử xuất sắc (một ngôi sao sáng trên sân khấu)

– Ngô nghê hơn nửa, Việt cộng gọi một tên cướp hạng nặng bằng “siêu cướp” !!! (lại cũng sai văn phạm vì “siêu” là tỉnh từ và “cướp” là động từ. Rõ ràng, trong văn phạm động từ không được dùng để bổ nghĩa cho tỉnh từ. Tiếng Việt truyền thống có danh từ kép “siêu nhân” (một nhân vật siêu phàm). Ở đây tỉnh từ “siêu” bổ nghĩa cho danh từ nhân. Cha Ông của chúng ta không bao giờ nói “siêu ăn” , “siêu uống” hoặc “siêu trộm” hay “siêu cướp”!

(3) Cách dùng chữ ngô nghê, vô nghĩa và trơ trẽn.

Thí dụ:
– Việt cộng nói: “Giải phóng mặt bằng” thay vì nói : “San bằng nhà cửa”. Cả hai chữ “giải phóng” và “mặt bằng” ở đây đều vô nghĩa. Chữ giải phóng thường dùng cho người như “giải phóng nô lệ” chứ không ai nói giải phóng nhà cửa hay giải phóng cây cối . Còn “mặt bằng”, nếu có nghĩa là nhà cửa thì thật là “hết ý” của Đỉnh Cao Trí Tệ Đần Cố Nông!

Kính thưa quý vị,
Nếu có thì giờ, chúng ta có thể đưa thêm nhiều cái sai của ngôn ngữ Việt cộng. Tuy nhiên, HSG hy vọng rằng những thí dụ đơn sơ trên đây nói lên được phần nào cái băng hoại của tiếng nước ta dưới chế độ ngu dân của CSVN.

Có những người cho rằng chúng tôi, những người chống ngôn ngữ Việt cộng, là quá khích. Thậm chí, có những người cho rằng chúng tôi hủ lậu không chấp nhận “ngôn(g) ngữ hiện đại” VN. (Hiện-Đại = Hại-Điện)

Thưa quý vị, “hiện đại” thường để diễn tả sự tiến bộ trong cách nghành kỹ thuât và truyền thông . Tuy nhiên “ngôn(g) ngữ hiện đại” dưới chế độ cộng sản VN là một thoái bộ trầm trọng của tiếng nước ta!

Đêm đã khuya, HSG xin dừng bút nới đây và hẹn sẽ tiếp tục khi có thì giờ.
Kính
Hương Sàigòn

P.S. Mời quý vị đọc đoạn văn dưới đây trích từ báo Quân Đội Nhân Dân của Việt cộng mà ngậm ngùi cho TIẾNG NƯỚC TÔI.
o-0-o


QĐND (Quân Đạp Nhân Dân)
– Sáng 7-7, Báo Quân đội nhân dân đã trọng thể tổ chức kỷ niệm 20 năm ngày Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần (một trong 4 ấn phẩm thuộc Báo Quân đội nhân dân) ra số đầu tiên (7-7-1990/7-7-2010). Tới dự có hơn 100 đại biểu, đại diện cho đông đảo thế hệ cán bộ, biên tập viên, phóng viên, cộng tác viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần, lãnh đạo một số cơ quan báo chí trong và ngoài quân đội.
………………………
Báo đã định hình nhiều chuyên mục bổ ích, mang hàm lượng tri thức và giải trí cao, khẳng định được vị thế và bản sắc trong “làng báo cuối tuần” cả nước với một số trang mục đặc sắc như: Sự việc – suy ngẫm, Chân dung người lính, Văn hóa – xã hội, Sáng tác – Phê bình Văn học, Gặp gỡ – Phỏng vấn, Câu lạc bộ chiến sĩ, Thể thao, Quốc tế…

Tại lễ kỷ niệm, nhiều ý kiến phát biểu mong muốn và kiến nghị thời gian tới, Báo tiếp tục đổi mới, khắc phục một số hạn chế, tăng hàm lượng tri thức, chất Quân đội nhân dân Cuối tuần lượng nội dung và hình thức, phản ánh sâu sắc và sinh động hơn đời sống LLVT và xã hội dưới góc độ văn hóa – nghệ thuật; tăng nhuận bút và số lượng phát hành rộng rãi hơn nữa trong toàn quân và cả nước; trở thành tờ báo VHVN hàng đầu của LLVT và nhân dân…

NGUYÊN MINH

(Đọc xong tôi phải chạy đi tìm cuốn Tự-Điển Việt Nam để tra chữ nghĩa. Thật không ngờ, xem qua lối viết văn của Vịt + ngày nay tôi mới biết tiếng Việt của mình còn “dở quá”. Thế mới biết Ngôn(g)-Ngữ của Đỉnh Cao Trí Tệ Đần Cố Nông ngày nay “Siêu Cực Nâng Cao” ra sao)
= = = = = = = = = = =
– Bảng đối chiếu từ ngữ của Việt Cộng và Việt Nam
Lời người giới thiệu:

– Có những từ ngữ của miền Nam và miền Bắc trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 viết và cách dùng giống nhau; nhưng đồng thời cũng có rất nhiều chữ viết giống y như nhau nhưng ý nghĩa (hoàn toàn khác biệt) dễ dàng gây “hoang mang” (confused) nếu người đọc (hoặc người nghe) không biết trước.

– Ở Việt Nam sau 1975, vì nhiều lý do, một số từ ngữ của miền Nam (VNCH) đã bị thay thế hẳn. Tuy nhiên văn hóa và truyền thông của cộng đồng người Việt tị nạn CS ở hải ngoại vẫn tiếp tục duy trì các từ ngữ của VNCH.

– Đã có một số tác giả hiện đang sống ở hải ngoại viết về vấn đề gọi là “cái chết của ngôn ngữ Sài gòn cũ.” Cá nhân tôi không đồng ý với quan điểm là tiếng Sài Gòn cũ (VNCH) đã hoặc sẽ chết. Thực tế cho thấy dân số tị nạn CS tại hải ngọai gần 3 triệu người hàng ngày vẫn dùng và bảo tồn chữ Sài gòn cũ trong gia đình, trong các buổi thánh lễ ở nhà thờ, trong kinh sách vào những buổi lễ thuyết pháp Phật giáo, trong các sinh họat thiếu nhi thánh thể cũng như gia đình phật tử… Hiển nhiên chữ Sài Gòn cũ luôn luôn có sẵn và không hề thiếu thì hà cớ gì chúng ta phải dùng đến chữ của Vi-Ci (VC) (riêng sự việc người dân Việt đang sống trong trong nước phải dùng từ ngữ CS trong mọi liên lạc, văn hóa là chuyện cũng dể hiểu thôi…)

-Người Do thái sau khi tan hàng ở Palestine vì có thể bị diệt chủng (bởi áp lực của Hồi giáo và dân Ả rập) cả chục thế kỷ rồi. Họ cũng sống lưu vong khắp nơi trên thế giới giống như dân Việt tị nạn CS; Vậy mà khi vừa mới tái lập quốc gia Do thái ở khoảng năm 1950 là họ đã khai sinh ngay trở lại một tử ngữ (dead language) của họ, tiếng Hebrew, thành một sinh ngữ (living language). Với cái đà xuống dốc tệ hại của chủ nghĩa CS hiện nay ở Việt Nam thì cơ hội phục hưng của người quốc gia và sự trở lại tiếng Sài Gòn cũ không phải chỉ có trong ước mơ. Bây giờ chúng ta cứ vô tình dùng chữ ngây ngô của VC thi chẳng khác gì như vô hình dung chúng ta chấp nhận CS (tương tự như trang điện báo của đảng CSVN hoan hỉ phổ biến sự thao dượt hải quân của Trung cộng trên quần đảo trường sa và Hoàng sa của Việt Nam).

-Tôi cố gắng thu góp lại, từ nhiều bài viết của nhiều tác gỉa và từ kinh nghiệm cá nhân, một số từ ngữ (của VC và VNCH) thuộc lọai “dễ dàng gây hoang mang” này và tạm xếp vào một bảng đối chiếu dưới đây để quí vị rộng đường tham khảo; tùy ý sử dụng; và để may ra giúp quí vị tránh các trường hợp đáng tiếc (bị đồng bào chung quanh hiểu lầm “địa chỉ” của mình).

T.V.G.
o=0=o

Sau đây là Bản Đối Chiếu
TỪ NGỮ Việt Cộng  &  TỪ NGỮ Việt Nam Cộng Hòa

Ấn tượng = Đáng ghi nhớ, đáng nhớ

Bác sỹ / Ca sỹ = Bác sĩ / Ca sĩ
Bang = Tiểu bang (State) (Vịt + nói chuyên trơ trẽn)
Bắc bộ / Trung bộ / Nam bộ = Bắc phần / Trung phần / Nam phần
Báo cáo = Thưa trình, nói, kể
Bảo quản = Che chở, giữ gìn, bảo vệ
Bài nói = Diễn văn
Bảo hiểm (mũ) = An toàn (mũ)
Bèo = Rẻ (tiền)
Bị (đẹp) = Không dùng động từ “bị;” chỉ dùng tĩnh từ (đẹp)
Bồi dưỡng (hối lộ?) = Nghỉ ngơi, tẩm bổ, săn sóc, chăm nom, ăn uống đầy đủ
Bóng đá = Đá Banh, Túc cầu
Bức xúc = Dồn nén, bực tức
Bất ngờ = Ngạc nhiên (surprised)
Bổ sung = Thêm, bổ túc

Cách ly = Cô lập
Cảnh báo = Báo động, phải chú ý
Cái A-lô = Cái điện thọai (telephone receiver)
Cái đài = Radio, máy phát thanh
Căn hộ = Căn nhà
Căng (lắm) = Căng thẳng (intense)
Cầu lông = Vũ cầu
Chảnh = Kiêu ngạo, làm tàng
Chất lượng = Phẩm chất tốt (chỉ đề cập phẩm “quality,” không đề cập lượng “quantity”)
Chất xám = Trí tuệ, sự thông minh
Chế độ = Quy chế
Chỉ đạo = Chỉ thị, ra lệnh
Chỉ tiêu = Định suất
Chủ nhiệm = Trưởng ban, Khoa trưởng
Chủ trì = Chủ tọa
Chữa cháy = Cứu hỏa
Chiêu đãi = Thết đãi
Chui = Lén lút
Chuyên chở = Nói lên, nêu ra
Chuyển ngữ = Dịch
Chứng minh nhân dân = Thẻ Căn cuớc
Chủ đạo = Chính
Co cụm = Thu hẹp
Công đoàn = Nghiệp đoàn
Công nghiệp = Kỹ nghệ
Công trình = Công tác
Cơ bản = Căn bản
Cơ khí (tĩnh từ!) = Cầu kỳ, phức tạp
Cơ sở = Căn bản, nguồn gốc
Cửa khẩu = Phi cảng, Hải cảng
Cụm từ = Nhóm chữ
Cứu hộ = Cứu cấp

Diện = Thành phần
Dự kiến = Phỏng định

Đại học mở = ???
Đào tị = Tị nạn
Đầu ra / Đầu vào = Xuất lượng / Nhập lượng
Đại táo / Tiểu táo = Nấu ăn chung, ăn tập thể / Nấu ăn riêng, ăn gia đình
Đại trà = Quy mô, cỡ lớn
Đảm bảo = Bảo đảm
Đăng ký = Ghi danh, ghi tên
Đáp án = Kết quả, trả lời
Đề xuất = Đề nghị
Đội ngũ = Hàng ngũ
Động não = Vận dụng trí óc, suy luận, suy nghĩ
Đồng bào dân tộc = Đồng bào sắc tộc
Động thái = Động lực
Động viên = Khuyến khích
Đột xuất = Bất ngờ
Đường băng = Phi đạo
Đường cao tốc = Xa lộ

Gia công = Làm ăn công
Giải phóng = Lấy lại, đem đi… (riêng chữ này bị VC lạm dụng rất nhiều)
Giải phóng mặt bằng = Ủi cho đất bằng
Giản đơn = Đơn giản
Giao lưu = Giao thiệp, trao đổi

Hạch toán = Kế toán
Hải quan = Quan Thuế
Hàng không dân dụng = Hàng không dân sự
Hát đôi = Song ca
Hát tốp = Hợp ca
Hạt nhân (vũ khí) = Nguyên tử
Hậu cần = Tiếp liệu
Học vị = Bằng cấp
Hệ quả = Hậu quả
Hiện đại = Tối tân
Hộ Nhà = Gia đình
Hộ chiếu = Sổ Thông hành
Hồ hởi = Phấn khởi
Hộ khẩu = Tờ khai gia đình
Hội chữ thập đỏ = Hội Hồng Thập Tự
Hoành tráng = Nguy nga, tráng lệ, đồ sộ
Hưng phấn = Kích động, vui sướng
Hữu hảo = Tốt đẹp
Hữu nghị = Thân hữu
Huyện = Quận

Kênh = Băng tần (Channel)
Khả năng (có) = Có thể xẩy ra (possible)
Khẩn trương = Nhanh lên
Khâu = Bộ phận, nhóm, ngành, ban, khoa
Kiều hối = Ngoại tệ
Kiệt suất = Giỏi, xuất sắc
Kinh qua = Trải qua

Làm gái = Làm điếm
Làm việc = Thẩm vấn, điều tra
Lầu năm góc / Nhà trắng = Ngũ Giác Đài / Tòa Bạch Ốc
Liên hoan = Đại hội, ăn mừng
Liên hệ = Liên lạc (contact)
Linh tinh = Vớ vẩn
Lính gái = Nữ quân nhân
Lính thủy đánh bộ = Thủy quân lục chiến
Lợi nhuận = Lợi tức
Lược tóm = Tóm lược
Lý giải = Giải thích (explain)

Máy bay lên thẳng = Trực thăng
Múa đôi = Khiêu vũ
Mĩ – Mỹ = (Hoa kỳ =USA)

Nắm bắt = Nắm vững
Nâng cấp = Nâng, hoặc đưa giá trị lên
Năng nổ = Siêng năng, tháo vát
Nghệ nhân = Thợ, nghệ sĩ
Nghệ danh = Tên (nghệ sĩ = stage name) dùng ngoài tên thật
Nghĩa vụ quân sự = Đi quân dịch
Nghiêm túc = Nghiêm chỉnh
Nghiệp dư = Đi làm thêm (2nd job / nghề phụ, nghề tay trái)
Nhà khách = Khách sạn
Nhất trí = Đồng lòng, đồng ý
Nhất quán = Luôn luôn, trước sau như một
Người nước ngoài = Ngoại kiều
Nỗi niềm (tĩnh từ!) = Vẻ suy tư

Phần cứng = Cương liệu
Phần mềm = Nhu liệu
Phản ánh = Phản ảnh
Phản hồi = Trả lời, hồi âm
Phát sóng = Phát thanh
Phó Tiến Sĩ = Cao Học
Phi khẩu = Phi trường, phi cảng
Phi vụ = Một vụ trao đổi thương mại (a business deal = thương vụ)
Phục hồi nhân phẩm = Hoàn lương
Phương án = Kế hoạch

Quá tải = Quá sức, quá mức
Quán triệt = Hiểu rõ
Quản lý = Quản trị
Quảng trường = Công trường
Quân hàm = Cấp bực
Quy hoạch = Kế hoạch
Quy trình = Tiến trình

Sốc (“shocked)” = Kinh hoàng, kinh ngạc, ngạc nhiên
Sơ tán = Tản cư
Sư = Sư đoàn
Sức khỏe công dân = Y tế công cộng
Sự cố = Trở ngại

Tập đòan / Doanh nghiệp = Công ty
Tên lửa = Hỏa tiễn
Tham gia lưu thông (xe cộ) = Lưu hành
Tham quan = Thăm viếng
Thanh lý = Thanh toán, chứng minh
Thân thương = Thân mến
Thi công = Làm
Thị phần = Thị trường
Thu nhập = Lợi tức
Thư giãn = Tỉnh táo, giải trí
Thuyết phục (tính) = Có lý (makes sense), hợp lý, tin được
Tiên tiến = Xuất sắc
Tiến công = Tấn công
Tiếp thu = Tiếp nhận, thâu nhận, lãnh hội
Tiêu dùng = Tiêu thụ
Tổ lái = Phi hành đòan
Tờ rơi = Truyền đơn
Tranh thủ = Cố gắng
Trí tuệ = Kiến thức
Triển khai = Khai triển
Tư duy = Suy nghĩ
Tư liệu = Tài liệu
Từ = Tiếng, chữ

Ùn tắc = Tắt nghẽn

Vấn nạn = Vấn đề
Vận động viên = Lực sĩ
Viện Ung Bướu = Viện Ung Thư
Vô tư = Tự nhiên

Xác tín = Chính xác
Xe con = Xe du lịch
Xe khách = Xe đò
Xử lý = Giải quyết, thi hành

(… còn tiếp)

* Quý vị nào thấy có thêm những chữ loại này ở đâu đó (?) hoặc thấy sự đối chiếu chưa đúng (!) thì xin vui lòng mách dùm để nhà cháu bổ túc (không phải bổ sung) và sửa đổi cho đúng (không phải là hoàn chỉnh) mà sửa chữa (chứ không phải sửa đổi), và cũng để mọi người cùng phấn khởi (không phải là hồ hởi) mà tham khảo.

Xin Đa tạ…
Trần Văn Giang [ghi chép lại]

Bắt mắt = Đẹp mắt, Ưa nhìn, Hấp dẫn
Bình ổn = Quân bình, ổn định
Căn hộ = Căn nhà
Cải tạo = Tù khổ sai
Chui cửa hậu = Công du
Cục Đường biển = Hàng hải
Cục Đường sắt = Hỏa xa
Có khả năng  = Có thể
Dũng cảm = Mạnh mẽ
Đại trà = Quy mô
Đáp án = Câu trả lời, Đáp số 
Đẳng cấp = Giai cấp    
Đi làm suốt = Đi làm suốt ngày, suốt buổi …
Điện cho ai (sai) = Gọi điện cho ai, điện thoại cho ai
Động thái = Động tĩnh  (thái độ và hành động)
Động viên = khuyến khích
Giá mềm = Giá rẻ
Giá hữu nghị = Giá tượng trưng
Giảm tốc = Giảm tốc độ
Giao dịch (cs dùng từa tựa như trả giá) = Thương thảo (négocier)
Hâm, Tửng = Khùng, mát giây
Hộ lý = Dâm nô
Hiển thị = Xem, Thấy
Khẩu trang = Băng vệ sinh
Khẩn trương = Gấp rút, Khẩn cấp                                                       
Làm chủ = Nô lệ
Lên lớp  (vd: Anh lên lớp tôi) = Dạy đời, Sửa lưng

Mặt bằng = Diện tích đất, DT khoảng trống    ???

Nhân thân = Thân nhân
Phản biện = Phản đối
Quan tâm = Lo lắng
Quảng bá = Quảng cáo hay Truyền bá
Quản lý = Sở hữu
Sân bay = Phi trường
Tài chủ nước lạ = Tàu cộng xâm lăng
Tàu vũ trụ = Phi thuyền
Tiến sĩ hữu nghị = Tiến sĩ giấy – tiến sĩ zdỏm
Tiến độ = Tiến trình
Tiếp cận = Gần gũi, Giao tiếp
Tư vấn = Cố vấn (conseiller)
Tố chất = Tư chất (cuả một người)

* Quý vị nào thấy có thêm những chữ loại này ở đâu đó (?) hoặc thấy sự đối chiếu trong bảng này chưa đúng lắm (!) thì xin vui lòng mách dùm để “nhà cháu” bổ túc (không phải bổ sung) và sửa chữa lại cho đúng (không phải là hoàn chỉnh hoặc sửa đổi) , và cũng để cho mọi người cùng phấn khởi (không phải là hồ hởi) để mà tham khảo thêm.
– Xin Đa tạ…


Trần Văn Giang [ghi chép lại]

TCB tôi sưu tầm. (bc)